Bản tin trường CDCĐ CA Mau

KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CHẤT VÀ ĐỘ MẶN KHÁC NHAU LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHÓM VI SINH TRONG SẢN PHẨM E

20/07/2020 07:41
    Màu chữ Cỡ chữ

1. Đặt vấn đề

Cà Mau là tỉnh đứng đầu trong cả nước về diện tích và sản lượng tôm nuôi. Hai đối tượng tôm nuôi chủ yếu ở Cà Mau gồm tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, gần đây tôm thẻ chân trắng trở thành đối tượng chủ lực thay tôm sú bởi thời gian nuôi ngắn và mật độ nuôi cao. Với việc đẩy mạnh mức độ thâm canh dẫn đến vấn đề quản lý chất lượng nước ngày càng đòi hỏi theo dõi chặt chẽ và nhu cầu kỹ thuật cao.

Để hạn chế hóa chất, ổn định môi trường nước và an toàn thực phẩm thì men vi sinh được ứng dụng chủ yếu trong xử lý nước và nền đáy ao nuôi. Nhằm phát huy hiệu quả, người nuôi thường dùng cơ chất như nguồn dưỡng chất cung cấp cho sự phát triển nhóm vi sinh vật có lợi trước khi đưa xuống ao tôm. Các cơ chất phổ biến như mật đường, cám gạo, bột mì,….nhưng việc lựa chọn phụ thuộc vào kinh nghiệm người nuôi và chưa có sự so sánh tính hiệu quả mang lại của từng loại cơ chất. Bên cạnh đó, mỗi dòng men vi sinh chứa đựng thành phần trọng tâm là vi sinh vật có lợi khác nhau nên rất dễ mẫn cảm bởi các yếu tố môi trường nước trong đó có độ mặn, vì mỗi loài hoặc mỗi nhóm vi sinh vật nói chung và vi sinh vật có lợi nói riêng có khả năng thích ứng không giống nhau. Do đó, việc sử dụng men vi sinh ở độ mặn vượt ngưỡng thích hợp sẽ không mang lại hiệu quả như mong đợi.

Nhằm kiểm tra cơ bản tính hiệu quả của vấn đề cơ chất và độ mặn nêu trên, nội dung khảo sát sự ảnh hưởng của các cơ chất và độ mặn khác nhau lên sự phát triển của nhóm vi sinh hữu ích trong sản phẩm E được thực hiện trong đợt thực hành của lớp Nuôi trồng thủy sản khóa XI.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu: men vi sinh E (chứa nhóm vi khuẩn có lợi)

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Nội dung được thực hiện tại phòng thí nghiệm Thủy Sinh Học của Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau từ ngày 04-09/5/2020.

Vật liệu: nồi autoclave, tủ mát, tủ lạnh, dây sục khí, đá bọt, keo thủy tinh 2 lit, đèn cồn, bình xịt cồn, đĩa Petri nhựa, que trải thủy tinh, ống nghiệm, micropippet,…môi trường Trypticase soyagar (TSA) – Merck, NaCl – Merck; cơ chất (mật đường, đường cát, cám gạo, bột mì).

Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn: hút 1ml dung dịch vi khuẩn ở mỗi nghiệm thức cho vào ống nước muối sinh lý tiệt trùng 9ml thứ nhất, lắc và trộn đều. Sau đó hút 1 ml dung dịch từ ống thứ nhất sang ống nước muối sinh lý 9ml tiếp theo. Mức độ pha loãng tùy theo độ đục ở mỗi nghiệm thức bố trí. Hút 100 µl dung dịch vi khuẩn từ 3 ống pha loãng cuối cùng cho lên môi trường TSA+. Tiếp tục dùng que thủy tinh tiệt trùng trãi dung dịch vi khuẩn trên đĩa đến khô và ủ ở 28oC trong 24h kiểm tra kết quả. Đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU/mL) = số khuẩn lạc × độ pha loãng × 10  

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Ảnh hưởng của độ mặn khác nhau: Chuẩn bị nước: nước có độ mặn 37‰ và nước cất được tiệt trùng 121oC, sau đó pha loãng về độ mặn 35‰, 30‰, 25‰,15‰, được chứa trong keo thủy tinh đã tiệt trùng, thể tích nước bố trí thí nghiệm là 1lit, có sục khí liên tục. Tiếp theo, cân 25g mật đường và 2.5g men vi sinh E cho vào keo thủy tinh đã chuẩn bị sẵn nước.

Ảnh hưởng cơ chất khác nhau: chuẩn bị nước và thể tích nước bố trí như nêu trên nhưng ở độ mặn 25‰. Sau đó cân 25g cơ chất mỗi loại để ở nhiệt độ 70oC, sau 30 phút để nguội và bố trí vào mỗi keo thủy tinh đã chuẩn bị nước sẵn, tiếp theo cân 2.5g men vi sinh E cho vào mỗi nghiệm thức, có sục khí liên tục.

Trước khi bố trí vi sinh vật có lợi, mẫu nước ở mỗi nghiệm thức đều được thu để kiểm tra. Định kỳ thời gian thu mẫu kiểm tra mật độ là 6h, 12h, 24h.

3. Kết quả

Qua 24h bố trí thí nghiệm cho kết quả rằng mật độ trung bình nhóm vi khuẩn có lợi trong men vi sinh E phát triển khác ở các độ mặn 15‰, 25‰, 30‰, 35‰. Nhìn chung, mật độ vi khuẩn cao nhất ở 25‰ (3.8x106 cfu/ml), tiếp theo là 30‰ (3.15x106 cfu/ml), mật độ vi khuẩn ở độ mặn 15‰ (7.15x105 cfu/ml) cao hơn ở độ mặn 35‰ (4.8x104 cfu/ml) thể hiện qua Hình 3.1. Mặc khác, mật độ vi khuẩn có lợi tăng liên tục qua các mốc thời gian thu mẫu 6h, 12h, 24h trong đó cao nhất ở 25‰. Riêng ở độ mặn 35‰, mật độ vi khuẩn ổn định từ 12h-24h thí nghiệm, mật độ vi khuẩn ở 25%o và 30% gần như nhau ở 24h (Hình 3.2)

Chi tiết xem tập tin đính kèm

Nguyễn Thị Tiên, Khoa Kinh tế - Thủy sản và sinh viên NTTS XI

Tin liên quan